Những điều cần hoàn thiện trong báo cáo thường niên



Mục đích của báo cáo thường niên là nhằm giới thiệu cho các nhà đầu tư một cách đầy đủ các hoạt động trọng yếu và tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và nhằm mục đích chính là dự đoán giá cổ phiếu và các yếu tố liên quan như lãi trên mỗi cổ phiếu (EPS) của doanh nghiệp trong tương lai.

Do đó, việc trình bày báo cáo thường niên cũng như các số liệu tài chính trong quá khứ phải làm sao giúp các nhà đầu tư dễ dự đoán tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của công ty, đặc biệt là EPS tương lai.

Các nhà đầu tư vốn chủ sở hữu kỳ vọng vào cả cổ tức và sự tăng trưởng trong giá trị cổ phiếu mà họ nắm giữ. Các nhà đầu tư có rủi ro là có thể không nhận được những khoản tiền này. Do vậy các nhà đầu tư sử dụng các báo cáo thường niên để: (1) Dự đoán các khoản lãi kỳ vọng của họ và (2) Đánh giá các rủi ro gắn liền với các khoản tiền lãi này.

1. Những điều có thể làm tốt hơn trong các báo cáo thường niên.

Bạn có thể dễ dàng tìm kiếm trên Internet các báo cáo thường niên của các tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng thế giới niêm yết trên các thị trường chứng khoán quốc tế tại Mỹ hay Châu Âu như PG.com của tập đoàn P&G (Mỹ), Unilever.com của tập đoàn Unilever (Hà lan và Anh Quốc). Mặc dù ở Việt Nam đã có một số quy định những điều tối thiểu phải trình bày trên báo cáo thường niên cho các công ty niêm yết. Tuy nhiên các công ty có thể làm được nhiều hơn thế để giới thiệu về mình với các nhà đầu tư. Việc trình bày tốt báo cáo thường niên là một công cụ hữu hiệu để giúp các nhà đầu tư hiểu hơn về công ty mình. Khi nhiều nhà đầu tư biết và đánh giá cao về công ty của bạn, có nghĩa là cổ phiếu của công ty bạn được nhà đầu tư đánh giá cao, do vậy nó có thể ảnh hưởng tốt đến giá cổ phiếu của công ty. Bởi vậy bạn có thể tham chiếu các báo cáo thường niên của các tập đoàn nổi tiếng thế giới cho báo cáo thường niên của mình. Sau đây là một số điểm mà tác giả cho rằng báo cáo thường niên của các công ty Việt Nam có thể làm tốt hơn.

1.1. Giới thiệu chiến lược của công ty: Bạn nên giới thiệu với nhà đầu tư chiến lược dài hạn của công ty mà nó tạo nên sự khác biệt và sự thành công của công ty. Những chiến lược này giúp cho nhà đầu tư có một cái nhìn về khả năng phát triển dài hạn của công ty. Chiến lược của công ty phải gắn liền với các thế mạnh của công ty cũng như trong mối liên hệ với môi trường kinh doanh của công ty. Hiện tại nhiều công ty Việt Nam đã có phần trình bày về tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi của công ty, tuy nhiên nhiều công ty không có phần trình bày về chiến lược phát triển công ty hoặc trình bày khá sơ sài. Điều này có thể làm cho nhà đầu tư có thể chưa thực sự yên tâm về khả năng phát triển dài hạn của công ty bạn.

1.2. Rủi ro và quản trị rủi ro:  Báo cáo thường niên nên trình bày các rủi ro chính mà công ty có thể phải đối mặt trong năm tới (tức năm hiện tại của ngày phát hành báo cáo thường niên) và các hành động mà công ty sẽ sử dụng để hạn chế các rủi ro xảy ra. Trình bày tốt phần này có nghĩa là công ty của bạn đã chuẩn bị rất tốt, đã dự liệu các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai và các biện pháp để ngăn ngừa nó. Điều này giúp các nhà đầu tư tin tưởng hơn những dự báo kết quả và tình hình tài chính của bạn. Ví dụ Unilever đưa ra các dự báo rủi ro cho năm 2010 về kinh tế như sau: Suy giảm kinh doanh trong thời kỳ kinh tế toàn cầu suy giảm, tránh việc sụp đổ của các khách hàng và nhà cung cấp. Do vậy họ: Kiểm soát cẩn thận các chỉ số kinh tế và thường xuyên sử dụng các mô hình ảnh hưởng của các kịch bản kinh tế khác nhau…

1.3. Các số liệu tài chính quan trọng nên trình bày ít nhất là 5 năm liên tục, và nó phải có ý nghĩa so sánh.  Để đánh giá đầy đủ về một công ty, các nhà đầu tư cần đánh giá các số liệu của ít nhất là 5 năm gần nhất, được trình bày sao cho thuận tiện nhất cho việc so sánh. Về nguyên tắc bạn nên trình bày càng dài càng tốt từ 10-15 năm như vậy nhà đầu tư càng thấy cả quá trình phát triển của công ty. Báo cáo thường niên 2009 của P&G trình bày 11 năm từ năm 2009 đến năm 1999. Các số liệu tài chính quan trọng có thể bao gồm như: Doanh thu thuần, Lãi kinh doanh, Lãi trước thuế, lãi sau thuế cho cổ đông công ty mẹ, EPS cơ bản, EPS pha loãng, EPS của các hoạt động tiếp tục, EPS của các hoạt động không tiếp tục, Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, Tổng tài tài sản, tổng công nợ, tổng vốn chủ sở hữu. Rất nhiều báo cáo thường niên hiện chỉ trình bày số liệu có 2 hay 3 năm. Có một số công ty trình bày số liệu tài chính quan trọng 5 năm nhưng các số liệu EPS lại không được điều chỉnh hồi tố khi có các sự kiện chia thưởng cổ phiếu hay chia cổ tức bằng cổ phiếu. Bởi vậy việc so sánh EPS qua các năm là không mấy ý nghĩa hoặc thậm chí là làm sai lệch nghiêm trọng.

1.4. Điều chỉnh EPS hồi tố. Nếu số cổ phiếu phổ thông hay cổ phiếu phổ thông tiềm năng đang lưu hành tăng như là kết quả của việc phát hành cổ phiếu thưởng hay chia tách cổ phiếu, trả cổ tức bằng cổ phiếu, việc tính EPS cơ bản và pha loãng cho tất cả các kỳ được trình bày phải được điều chỉnh tương ứng. Hiện nay một số công ty không điều chỉnh EPS, một số khác có điều chỉnh EPS của năm trước, nhưng lại không điều chỉnh trong các phần các chỉ tiêu tài chính quan trọng cho 5 năm, kết quả là các nhà đầu tư có được các thông tin EPS gốc mà nó không có mấy ý nghĩa trong việc so sánh. Ví dụ BCTN của Sacombank ở trang 44 phần các chỉ tiêu tài chính chủ yếu qua các năm, ghi nguyên gốc EPS năm 2009 là 2.771 đ/CP, năm 2008 là 1.869 đ/CP, trong báo cáo kết quả kinh doanh cũng tương tự. Tuy nhiên trong phần thuyết minh số 25 trang 90 thì ghi cả EPS điều chỉnh , khi đó EPS năm 2008 là 1.623 đ/CP (thay vì 1.869). Lẽ ra EPS năm 2008 trong tất cả các báo cáo của năm 2009 phải được trình bày là EPS điều chỉnh (1.623 đ/CP), con số này mới có ý nghĩa cho việc so sánh để thấy được sự tăng trưởng của EPS qua các năm. Tương tự EPS của các năm 2007 đến 2005 trong số liệu tài chính qua các năm đều phải điều chỉnh tương ứng để thấy được sự tăng trưởng của EPS. Việc chỉ trình bày EPS điều chỉnh trong phần thuyết minh các báo cáo tài chính mà không trình bày trên các báo cáo quan trọng như Báo cáo kết quả và phần các chỉ tiêu tài chính quan trọng qua các năm, dễ làm cho các nhà đầu tư hiểu nhầm, vì không phải ai cũng có thời gian đọc phần thuyết minh rất dài của các báo cáo tài chính. Hơn nữa việc phải trình bày EPS điều chỉnh hồi tố là bắt buộc theo quy định của VAS và IFRS (CM báo cáo tài chính quốc tế).

1.5. EPS pha loãng (Diluted EPS). Việc tính EPS trở nên phức tạp khi công ty có các khoản trái phiếu chuyển đổi, chứng quyền và lựa chọn quyền mua cổ phiếu hay các công cụ tài chính mà nó có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông. VAS quy định chưa rõ ràng về EPS “suy giảm” tức pha loãng mặc dù chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 33 “yêu cầu bắt buộc báo cáo kết quả kinh doanh của các công ty phải trình bày cả hai chỉ tiêu EPS cơ bản và EPS pha loãng trên bề mặt của Báo cáo Kết quả kinh doanh với mức độ nổi bật như nhau”. Nhiều công ty Việt Nam hiện nay vẫn chưa báo cáo EPS pha loãng. Cho các quyết định đầu tư, nhà đầu tư luôn cần phải xem xét cả EPS cơ bản và EPS pha loãng. Trong tình huống mà doanh nghiệp có nhiều trái phiếu chuyển đổi thì EPS pha loãng vô cùng quan trọng nó là một chỉ báo cho EPS của các năm tới chứ không phải là EPS cơ bản. Ví dụ của ngân hàng ACB trong những năm gần đây là một điển hình mà EPS pha loãng là cơ sở chính xác hơn để các nhà đầu tư ước tính EPS của những năm tới.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại bắc ninh
Chỉ tiêu                                    2009    2008
EPS cơ bản (Đ/CP)               3.042   3.563
EPS pha loãng (Đ/CP)         2.751   2.979

Tuy nhiên nhiều công ty không trình bày chỉ tiêu EPS pha loãng. SSI cuối năm 2009 vẫn còn hơn 222 tỷ đ trái phiếu chuyển đổi sẽ chuyển thành 22.222.400 cổ phiếu mà nó sẽ chuyển đổi vào ngày 30.1.2010 để tăng vốn điều lệ từ 1.533 tỷ đ lên 1.755 tỷ đ. Tuy nhiên trong phần báo cáo tài chính của SSI năm 2009 không trình bày chỉ tiêu rất quan trọng đối với các nhà đầu tư là EPS pha loãng. Nếu tính EPS pha loãng của SSI, nó sẽ giảm hơn 10% so với EPS cơ bản do cổ phiếu của SSI bị pha loãng 14%.

1.6. Trình bày Lương và thu nhập của Chủ tịch hội đồng quản trị và Tổng giám đốc. Theo quy định của Việt Nam, Lương của TGĐ phải được báo cáo trước đại hội đồng cổ đông. Đó là một chỉ tiêu khá nhạy cảm ở Việt Nam. Rất nhiều công ty không đưa chỉ tiêu này vào báo cáo thường niên hoặc đưa vào số liệu tổng cho cả một nhóm ví dụ như HĐQT, Ban kiểm soát và Ban tổng giám đốc. Cũng có công ty đưa ra con số % lương, thu nhập, thù lao trên tổng số thu nhập như của Vinamilk mà thực chất thì những con số này gần như không có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư. Nếu một công ty trả lương tốt cho Tổng giám đốc, Chủ tịch HĐQT mà công ty vẫn có kết quả kinh doanh tốt, thì đó là một công ty tốt. Tuy nhiên nếu một công ty trả lương cho từng cá nhân lãnh đạo công ty rất thấp nhưng công ty có kết quả kinh doanh tốt, điều đó làm các nhà đầu tư thấy bất an bởi tính bền vững của các nhà quản trị này, liệu họ có tiếp tục làm ở đấy nữa hay không? Rủi ro mà nhà quản trị chuyển sang công ty khác có mức thu nhập tốt hơn rất dễ xảy ra.

2. Trình bày các báo cáo tài chính

2.1. Trình bày báo cáo tài chính cho số liệu của 3 năm gần nhất (thay vì chỉ có 2 như hiện nay). Mặc dù chế độ kế toán của Việt Nam chỉ quy định bắt buộc các số liệu của năm hiện tại và năm trước đó. Tuy nhiên để các nhà đầu tư có một cách nhìn tốt hơn về công ty, đa phần các báo cáo tài chính của các công ty trên thị trường chứng khoán quốc tế (Unilever hay P&G) trình bày 3 năm liên tục cho năm hiện tại và 2 năm liền trước đó. Như vậy nhà đầu tư sẽ có các số liệu lịch sử dài hơn để có thể đánh giá về công mà có thể không cần phải tìm hiểu thêm báo cáo của các năm trước đó. Điều này không trái với quy định của chế độ kế toán Việt Nam.

2.2. Các hoạt động không tiếp tục. Các hoạt động không tiếp tục liên quan đến việc đóng cửa hoặc bán một bộ phận của doanh nghiệp. Nếu một công ty cắt bỏ một bộ phận kinh doanh nào đó, nó cần phải báo cáo riêng biệt kết quả kinh doanh của các bộ phận vẫn tiếp tục và các bộ phận không tiếp tục, cả hai đều phải được báo cáo trên báo cáo kết quả kinh doanh hay trong thuyết minh báo cáo tài chính. Để có các báo cáo kết quả kinh doanh có tính so sánh tốt, lãi lỗ của các bộ phận không tiếp tục cần được chỉ ra riêng biệt cho tất cả các năm trong quá khứ mà bộ phận này hoạt động, nếu không tình hình tài chính hiện tại của công ty mà nó không bao gồm các bộ phận đã cắt bỏ, sẽ không thể so sánh được với tình hình tài chính (các số liệu) quá khứ. EPS là một sự tổng hợp quan trọng, nó được báo cáo riêng biệt cho các hoạt động không tiếp tục.

2.3. Báo cáo bộ phận . VAS 28 đã yêu cầu chi tiết về báo cáo các bộ phận, nó giống như IAS 14, tuy nhiên dường như các công ty làm báo cáo bộ phận rất sơ sài chưa đáp ứng được các yêu cầu của VAS cũng như yêu cầu của các nhà đầu tư. Báo cáo bộ phận cần thiết cho việc đánh giá rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp có nhiều ngành hàng khác nhau, có cơ sở ở nước ngoài hoặc doanh nghiệp có phạm vi hoạt động trên nhiều khu vực địa lý khác nhau. Báo cáo bộ phận nhằm hỗ trợ người sử dụng báo cáo tài chính: a) Hiểu rõ về tình hình hoạt động các năm trước của doanh nghiệp; b) Đánh giá đúng về những rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp; và c) Đưa ra những đánh giá hợp lý hơn về doanh nghiệp.

Ví dụ báo cáo bộ phận của Vinamilk chỉ đưa ra báo cáo kết quả ngắn gọn của bộ phận xuất khấu và bán nội địa. Thiết nghĩ Vinamilk nên báo cáo bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh hay ngành hàng cũng như nhìn thấy được sự rủi ro của chúng. Trong báo cáo của Chủ tịch HĐQT Vinamilk đã báo cáo rõ hơn về các bộ phận gồm (1) Nhóm sữa bột và bột dinh dưỡng, (2) Sữa đặc có đường, (3) Sữa tươi và sữa chua uống, (4) Hàng lạnh, thực phẩm và giải khát, (5) Cà phê, (6) Đầu tư tài chính. Nếu báo cáo bộ phận của Vinamilk trình bày theo các ngành này thì nhà đầu tư sẽ dễ dự đoán được tương lai của công ty hơn. Các số liệu báo cáo bộ phận nên trình bày cho 3 năm.

lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải dương 2.4. Báo cáo kết quả theo quý và cả năm. Hoạt động của các doanh nghiệp thường có tính thời vụ, để các nhà đầu tư có một cái nhìn đầy đủ hơn về doanh nghiệp, bạn nên trình bày báo cáo kết quả rút gọn theo từng quý và cho 2 năm.

Hãy xem trích đoạn của báo cáo thường niên của P&G năm 2009, phần Kết quả theo quý (chưa kiểm toán) (đơn vị Triệu USD):

Ngày kết thúc quý                    30.9         31.12        31.3         30.6          Cả năm
Doanh thu thuần 2008         19.799     21.038      20.026    20.885        81.748
Doanh thu thuần 2009         21.582     20.368      18.417    18.662        79.024

Những công ty hoạt động có tính thời vụ lớn như ngành bánh kẹo, đồ gỗ, thời trang thì báo cáo năm theo quý đặc biệt có ý nghĩa với các nhà đầu tư.

2.5. Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh. Trong báo cáo thường niên của P&G năm 2009, 3 chỉ tiêu tài chính quan trọng nhất được làm nổi bật (trang đầu) đó là Doanh thu ròng, EPS và dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh. Một doanh nghiệp có tình hình tài chính, và kết quả kinh doanh bình thường thì dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh là một số dương và nó thường ở mức bằng lãi ròng sau thuế cộng với các khoản chi phí khấu hao và chi phí không phải chi tiền trong kỳ. Nó nói lên rằng cho các hoạt động kinh doanh thông thường, dòng tiền thu về từ bán hàng và dịch vụ đủ bù đắp cho các chi phí kinh doanh thông thường và còn dư ra một khoản để tái đầu tư cho tương lai. Tuy nhiên do các hướng dẫn của VAS chưa rõ ràng, các khoản phải trả thương mại bao gồm cả các khoản phải trả khác cho mua sắm tài sản dài hạn, hay tài sản tài chính do vậy dòng tiền từ thuần từ hoạt động kinh doanh có thể bị lẫn lộn với các dòng tiền từ các hoạt động đầu tư hay tài chính. Báo cáo thường niên năm 2008 của một công ty đồ gỗ (trong nhóm 10 báo cáo thường niên hay nhất năm 2008) bị lỗi kỹ thuật rất nghiêm trọng này.

2.6. EPS cơ bản: EPS là một chỉ tiêu rất quan trọng của các công ty đại chúng và nhất là các công ty niêm yết. Tuy nhiên do chế độ kế toán của Việt Nam đưa ra cách tính sai rất căn bản (đến này vẫn chưa sửa). Đó là lãi dùng để tính EPS bao gồm cả các khoản quỹ khen thưởng phúc lợi không thuộc cổ đông. Bởi vậy EPS của các công ty bị sai lệnh nhiều ít tùy thuộc vào phần lãi sau thuế cho quỹ khen thưởng phúc lợi của công ty đó. Rất nhiều công ty trích quỹ khen thưởng phúc lợi từ 5-15% lợi nhuận sau thuế, do vậy EPS của các công ty này cũng bị sai lệch tương ứng tỷ lệ này. Vinamilk năm 2009 trích 10% lãi sau thuế cho quỹ khen thưởng phúc lợi, nên EPS của Vinamilk bị sai lệch so với số thực là 10%. Cá biệt có công ty trích quỹ này lên tới 30% như Công ty Than Núi Béo.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên Theo Webketoan
[Read More...]


Sự khác biệt với chuẩn mực quốc tế về kế toán công của kế toán Nhà nước Việt Nam



Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi kế toán nhà nước một mặt phải thừa nhận các nguyên tắ , thông lệ phổ biến của quốc tế, đồng thời, phải có mô hình quản lý phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam. Vì vậy, đòi hỏi những người soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam phải có nhận thức về sự khác biệt của kế toán nhà nước với kế toán công quốc tế để hài hoà giữa kế toán Nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế . Điểm tương đồng với chuẩn mực kế toán quốc tế

Hệ thống chuẩn mực quốc tế về kế toán công đựơc xây dựng trên cơ sở hệ thống chuẩn mực kế toán (CMKT) trong lĩnh vực tư và được thực hiện trên cơ sở kế toán dồn tích . Việt Nam đã thực hiện cải cách hệ thống kế toán DN và hệ thống kế toán hành chính sự nghiệp (HCSN). Chế độ kế toán HCSN về cơ bản đã thực hiện dồn tích, trừ hạch toán ghi nhận TSCĐ, nguồn kinh phí. Mặt khác, Việt Nam cũng đã xây dựng được hệ thống CMKT DN dựa trên CMKT quốc tế trong lĩnh vực tư, do đó, việc tiếp cận kế toán nhà nước với CMKT công quốc tế là tương đối gần và có nhiều thuận tiện trên các mặt như con người, nhận thức, hệ thống pháp lý, cơ chế tài chính…

Sự khác biệt giữa kế toán khu vực nhà nước của Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế

Về đối tượng áp dụng: Kế toán trong lĩnh vực nhà nước của Việt Nam (viết tắt là kế toán nhà nước) áp dụng cho: các đơn vị thu – chi NSNN; các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có sử dụng kinh phí NSNN; các đơn vị sự nghiệp tổ chức không sử dụng kinh phí NSNN; các quỹ tài chính của Nhà nước. Kế toán nhà nước Việt Nam không áp dụng cho DN nhà nước và các DN khác thuộc mọi thành phần kinh tế .

Trong khi, CMKT  công quốc tế áp dụng cho các đơn vị thuộc chính quyền trung ương, các chính quỳên khu vực; chính quyền địa phương và các đơn vị trực thuộc các đơn vị này; các đơn vị cung cấp dịch vụ công được Nhà nước tài trợ thường xuyên. Nhà nước chịu trách nhiệm về tài sản công nợ khi phá sản. CMKT công không áp dụng cho DNNN, các đơn vị, tổ chức công không được tài trợ thường xuyên để duy trì hoạt động liên tục.

Về phạm vi hợp nhất BCTC của Chính phủ: Kế toán nhà nước Việt Nam quy định vềviệc lập báo cáo quyết toán NSNN nhưng chưa xác lập được nội dung, mẫu biểu và phương pháp hợp nhất BCTC Chính phủ. Còn theo CMKT công quốc tế, toàn bộ các đơn vị dưới sự kiểm soát của Chính phủ trong và ngoài nước hoặc đơn vị Chính phủ phải chịu trách nhiệm về tài sản và công nợ khi giải thể, phá sản đều được tổng hợp vào BCTC Chính phủ. Ngoài ra , tổng hợp lập báo cáo quyết toán chính quyền các cấp.

Về áp dụng cơ sở kế toán: Các đơn vị kế toán nhà nước Việt Nam đang áp dụng các cơ sở kế toán khác nhau . Đơn vị thu – chi ngân sách áp dụng cơ sở kế toán tiền mặt có điều chỉnh (đã theo dõi tạm ứng , nợ phải thu , nợ phải trả ); đơn vị HCSN áp dụng cơ sở kế toán dồn tích có điều chỉnh (đã hạch toán đầy đủ nợ phải thu ,nợ phải trả , tính hao mòn của TSCĐ nhưng chưa tính vào chi phí hoạt động trong kỳ kế toán ). Còn CMKT công quốc tế phân định rõ ràng 2 cơ sở kế toán: kế toán trên cơ sở tiền mặt ; kế toán trên cơ sở dồn tích.

Về hệ thống thông tin: Thông tin đầu vào của kế toán nhà nước Việt Nam do Chính phủ quy định cụ thể, chia làm 3 loại: lĩnh vực ngân sách ; lĩnh vực HCSN; lĩnh vực đặc thù. Còn theo CMKT công quốc tế , các mẫu thông tin đầu vào do Hội nghề nghiệp qui định.

Thông tin đầu ra của kế toán nhà nước Việt Nam mới chỉ dừng lại qui định việc lập BCTC  ở cấp đơn vị và có tổng hợp BCTC  theo từng cấp ngân sách nhằm phục vụ quyết toán kinh phí ở đơn vị. Toàn Chính phủ chưa có qui định BCTC hợp nhất. Hiện tại , mới chỉ có báo cáo thống kê tài sản toàn chính phủ và báo cáo ngân sách cho Quốc hội. CMKT công quốc tế qui định 2 loại báo cáo: BCTC của Chính phủ (báo cáo tổng hợp các đơn vị thuộc đơn vị thuộc sự kiểm soát của Chính phủ) và báo cáo ngân sách (lập theo yêu cầu của Quốc hội).

Những điểm khác biệt cụ thể

Về ghi nhận nguồn vốn: Chế độ kế toán HCSN của Việt Nam qui định số thu được ghi thẳng tăng nguồn vốn . Còn CMKT công quốc tế qui định phải bù trừ giữa thu và chi , số chênh lệch mới được ghi tăng nguồn vốn.

Về danh mục BCTC: Kế toán nhà nước Việt Nam qui định : đơn vị thu – chi ngân sách phải lập 28 báo cáo, đơn vị HCSN phải lập 6 báo cáo và 4 phụ biểu , các đơn vị đặc thù còn có thêm các báo cáo đặc thù của ngành.

CMKT công quốc tế qui định kế toán trên cơ sở tiền mặt lập 1 báo cáo thu – chi tiền mặt, kế toán trên cơ sở dồn tích lập 5 báo cáo (Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị ; Báo cáo kết quả hoạt động; Báo cáo sự thay đổi về tài sản thuần / Vốn chủ sở hữu ; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Chính sách kế toán và giải trình BCTC)

Về hàng tồn kho : Kế toán nhà nước Việt Nam quy định cuối năm , nguyên vật liệu , công cụ , dụng cụ đa mua chưa sử dụng hết cũng được tính hết vào chi trong kỳ và được quyết toán .

CMKT công quốc tế (IPSAS 12) lại quy định giá trị hàng tồn kho chỉ được ghi nhận vào chi phí trong kỳ cho phù hợp với doanh thu được ghi nhận.

Về giá trị XDCB dở dang , sửa chữa lớn hoàn thành: Kế toán trong lĩnh vực Nhà nước của Việt Nam qui định cuối năm được tính vào chi và quyết toán ngay trong kỳ , còn CMKT công quốc tế (IPSAS 11) qui định chi phí được công nhận lá chi trong kỳ phù hợp với khối lượng hoàn thành.

Về tài sản cố định: Theo kế toán Nhà nước của Việt Nam, khi mua sắm TSCĐ, tính toán toàn bộ giá trị tài sản vào số chi trong kỳ, hàng năm tính hao mòn TSCĐ, ghi giảm nguồn hình thành TSCĐ mà chưa thực hiện khấu hao TSCĐ vào chi phí trong kỳ đảm bảo phù hợp với doanh thu và chi phí. Kế toán nhà nước Việt Nam qui định tiêu chuẩn TSCĐ hữu hình, vô hình, hướng dẫn phương pháp kế toán tăng, giảm, hao mòn, khấu hao, sửa chữa nhưng chưa hạch toán thiết bị quân sự, tài sản là di sản.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên Trong khi đó, CMKT công quốc tế (IPSAS 17) qui định số khấu hao mỗi kỳ được ghi nhận là chi phí; phân chia tài sản phi tài chính là bất động sản, nhà xưởng, thiết bị; kế toán cả phần thiết bị quân sự chuyên dụng, cơ sở hạ tầng và không hướng dẫn kế toán tài sản là di sản.

Về tỉ giá hối đoái và xử lý chênh lệch tỷ gía hối đoái: Kế toán Nhà nước Việt Nam qui định các khoản thu chi ngân sách bằng ngoại tệ được qui đổi theo tỷ  giá do Bộ Tài chính công bố. Chênh lệch tỷ giá được ghi tăng chi hoặc ghi giảm chi trong kỳ.

Còn CMKT công quốc tế (IPSAS 9) qui định tỷ giá hối đoái được ghi nhận theo tỷ giá tại thời điểm phát sinh giao dịch thường được coi là tỷ giá giao ngay. Chênh lệch tỷ giá được ghi nhận là khoản thu hoặc chi phí trong kỳ phát sinh.

Về bất động sản đầu tư , nợ tiềm tàng , công cụ tài chính: Kế toán nhà nước Việt Nam chưa có cơ chế tài chính cụ thể nên chưa có hướng dẫn hạch toán đối với bất động sản đầu tư , nợ tiềm tàng , các công cụ tài chính…

Còn CMKT công quốc tế qui định và hướng dẫn rõ cách xử lý và hạch toán kế toán trong từng trường hợp (bất động sản đầu tư , nợ tiềm tàng , các công cụ tài chính…)

Về giao dịch: Trong kế toán Nhà nước Việt Nam, kế toán thu – chi ngân sách qui định giao dịch một chiều: Kế toán HCSN qui định giao dịch một chiều với thu, chi liên quan đến ngân sách; hai chiều đối với hoạt động dịch vụ. Trong hệ thống CMKT công quốc tế, mới chỉ có CM cho các giao dịch trao đổi mà chưa có chuẩn mực cho các giao dịch một chiều.

Về qui định kế toán trong nền kinh tế siêu lạm phát và các khoản dự phòng , nợ phải trả  tiềm tàng: Trong khi CMKT công quốc tế (IPSAS 10) đã có hướng dẫn cụ thể, thì kế toán nhà nước Việt Nam chưa qui định các khoản dự phòng, các khoản nợ phải trả tiềm tàng.

Về chi phí đi va y: Kế toán trong lĩnh vực nhà nước của Việt Nam qui định chi phí đi vay hạch toán là khoản chi ngân sách, chi hoạt động chưa được vốn hoá. Còn CMKT công quốc tế hướng dẫn hạch toán chi phí đi vay, phương pháp vốn hoá chi phí vay liên quan đến mua tài sản , xây dựng hoặc sản xuất tài sản.

Về thặng dư, thâm hụt: Kế toán Nhà nước Việt Nam qui định thu – chi ngân sách xác định tồn quỹ ngân sách trong đó có tính cả các khoản đi vay (trừ khoản vay cho vay lại ) và các khoản thu, chi chuyển nguồn, chuyển niên độ ngân sách; đơn vị HCSN tính chênh lệch thu, chi hoạt động do tiết kiệm kinh phí và chênh lệch hoạt động kinh doanh dịch vụ để bổ sung nguồn kinh phí, tăng thu nhập, trích lập các quỹ.

Trong khi đó, theo CMKT công quốc tế, thu – chi ngân sách xác định thặng dư, thâm hụt theo thu, chi ngân sách các khoản đi vay hạch toán riêng bù đắp bội chi; đơn vị dịch vụ công được nhà nước tài trợ thường xuyên tính thặng dư thâm hụt hoạt động thông thường, thặng dư thâm hụt hoạt động bất thường.

Tiến tới hài hoà với các CMKT công quốc tế

Để tiến tới sự hài hoà giữa kế toán Nhà nước Việt Nam và CMKT công quốc tế, phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển của Việt Nam thì cần thiết phải xây dựng 1 hệ thống CMKT công của Việt Nam, trên cơ sở chuẩn mực kế toán công quốc tế phù hợp với đặc thù của Việt Nam. Để làm được đìêu đó, phải thực hiện các bước sau:
dịch vụ thành lập doanh nghiệp tại hà đông
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất sửa đổi, bổ sung cơ chế tài chính công và kế toán nhà nước phù hợp với CMKT công quốc tế.

Cần đánh giá thực trạng kế toán nhà nước Việt Nam, từ đó, chỉ ra những vấn đề sửa đổi cơ chế tài chính công và những vướng mắc, bất hợp lý so với CMKT công quốc tế.

- Tổ chức biên dịch, nghiên cứu CMKT công quốc tế.

- Xác định hướng và lộ trình áp dụng CMKT công quốc tế để xây dựng hệ thống CMKT nhà nước Việt Nam .

- Sửa đổi, bổ sung cơ chế tài chính công phù hợp với CMKT công quốc tế .

Kế toán nhà nước của Việt Nam chịu sự chi phối bởi Luật Ngân sách và các văn bản qui định cơ chế tài chính cho các đơn vị thuộc lĩnh vực công . Còn đỉêm khác bịêt giữa các qui định của Luật Ngân sách với các qui định của CM công. Vì vậy , để có thể vận dụng được chuẩn mực công quốc tế đòi hỏi phải có sửa đổi , bổ sung.

- Nghiên cứu, xây dựng hệ thống CMKT công của Việt Nam.

- Triển khai áp dụng các CMKT công của Việt Nam.

Căn cứ vào hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc gia, cần có các qui định cụ thể cho các đơn vị trong lĩnh vực công thực hiện. Cần tiến hành các bước :

+  Xây dựng hoàn chỉnh CĐKT nhà nước.

+ Xây dựng quy trình nghiệp vụ phù hợp với định hướng phát triển.

+ Kiểm tra, triển khai thực hiện.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hà đông Theo diendanketoan
[Read More...]


VAA hợp tác với Hiệp hội Kế toán quản trị Hoa Kỳ




Sáng 15/4/2017, tại Hà Nội, Hội Kế toán – Kiểm toán Việt Nam (VAA) và Hiệp hội Kế toán quản trị Hoa Kỳ (IMA) đã ký kết thỏa thuận hợp tác và Hội thảo Quản trị rủi ro & Kiểm toán nội bộ – Chìa khóa nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quảng ninh
Ông Đặng Văn Thanh – Chủ tịch VAA và ông Jeffrey C. Thomson
– Chủ tịch kiêm Tổng Giám Đốc toàn cầu IMA Hoa Kỳ cùng đại diện các bộ, ban ngành
tham dự lễ ký kết thỏa thuận hợp tác. Ảnh: Nguyễn Tuấn

Phát biểu tại lễ ký kết, ông Đặng Văn Thanh – Chủ tịch VAA cho biết: Đây là lần đầu tiên VAA thực hiện ký kết thỏa thuận hợp tác với một hiệp hội nghề nghiệp kế toán toàn cầu của Mỹ. Mục tiêu của thỏa thuận hợp tác này nhằm hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau trong việc chia sẻ, cập nhật kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn trong nước và trên thế giới; nâng cao chuyên môn kỹ năng nghề nghiệp trong lĩnh vực kế toán quản trị cho hội viên hai bên cũng như cộng đồng kế toán quản trị.

Với vai trò quan trọng và xu hướng phát triển kế toán quản trị hiện nay, sự kết hợp giữa hai hiệp hội này sẽ mở ra nhiều cơ hội nghề nghiệp cho giới hành nghề kế toán – tài chính tại Việt Nam.

Ông Jeffrey C. Thomson- Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc toàn cầu IMA cho biết, IMA là hiệp hội nghề nghiệp uy tín toàn cầu trong lĩnh vực kế toán quản trị và quản trị tài chính tại Hoa Kỳ, thành lập năm 1919 với hơn 85.000 hội viên được công nhận tại hơn 140 quốc gia.

dịch vụ làm báo cáo tài chính tại Quận Thanh Xuân
Trong nội dung hợp tác với VAA Việt Nam lần này, IMA sẽ đặc biệt triển khai các chính sách hỗ trợ nhằm giúp hội viên VAA có cơ hội nâng cao chuyên môn nghề nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế thông qua việc sở hữu chứng chỉ Kế toán quản trị Hoa Kỳ CMA, chứng chỉ nghề nghiệp trong lĩnh vực Kế toán quản trị được thế giới công nhận.

Ngoài ra, IMA cũng mong muốn mở rộng hợp tác và có những chính sách hỗ trợ phù hợp cho thành viên Câu lạc bộ Kế toán trưởng toàn quốc, đơn vị trực thuộc quản lý của VAA.

Cũng trong khuôn khổ lễ ký kết, các đại biểu và khách mời tham gia đã được lắng nghe phần chia sẻ bổ ích và thực tế xoay quanh chủ đề kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro thông qua nội dung hội thảo “Kiểm soát nội bộ & Quản trị rủi ro - Chìa khóa năng cao năng lực quản trị doanh nghiệp”.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại long biên
Theo Thời báo Tài chính Việt Nam
[Read More...]


Lời khuyên đắt giá giúp doanh nghiệp mới chọn công cụ kế toán “chuẩn”



Số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, 9 tháng đầu năm 2016 tổng số doanh nghiệp thành lập mới là hơn 81.000. Tuy nhiên, hơn 53.000 doanh nghiệp khác đã kịp đăng ký tạm dừng kinh doanh, chờ hoặc đã hoàn tất thủ tục giải thể. Làm thế nào để giữa thương trường khắc nghiệt, doanh nghiệp mới thành lập sẽ đứng vững?

dịch vụ làm báo cáo tài chính tại Bắc Ninh
Nắm chắc các công cụ tối ưu để hỗ trợ điều hành ngay từ khi mới thành lập sẽ giúp các doanh nghiệp thiết lập những bước đi vững chắc, trong đó có kế toán - “bộ não tài chính” của bất cứ doanh nghiệp nào. Mua phần mềm tốt hỗ trợ thay vì dùng excel, sổ sách giấy tờ thủ công là việc mà ông chủ nào cũng nên làm.

Dưới đây là 5 lời khuyên hữu ích cho chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ khi chọn phần mềm kế toán tốt:

Chọn phần mềm phù hợp lĩnh vực đang kinh doanh

Nếu là doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, phần mềm phải theo dõi được các khoản doanh thu, chi phí, công nợ và tự động tính lợi nhuận theo từng bộ phận. Nếu sản xuất hay xây lắp, hãy coi trọng tính năng tính giá thành sản phẩm theo nhiều phương pháp để giúp tiết kiệm thời gian trong việc xác định giá thành sản phẩm.

Chọn phần mềm giúp tăng năng suất bộ phận kế toán

Khi quyết định dùng phần mềm phải đặt mục tiêu giúp tiết kiệm được bao nhiêu % thời gian làm việc của kế toán, thủ quỹ, thủ kho. Khả năng tổng hợp nhanh và chính xác của phần mềm sẽ giúp doanh nghiệp có các báo cáo kế toán tài chính, quản trị để ra quyết định điều hành chuẩn xác.

Chọn phần mềm của đơn vị có kinh nghiệm, uy tín

lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng
Tìm hiểu nhà cung cấp đã bán phần mềm lâu chưa, số lượng khách hàng mà họ phục vụ, có uy tín trong giới CNTT hay không. Đừng bỏ qua các chứng chỉ về quản lý chất lượng, an ninh thông tin mà đơn vị đó đang áp dụng để đảm bảo được dùng “hàng xịn”.

Giao diện đẹp, đơn giản, dễ sử dụng

Hình thức của phần mềm rất quan trọng, để nhân viên kế toán dễ sử dụng, người đọc báo cáo thấy thuận tiện. Phần mềm cần có giao diện thuần Việt, các nghiệp vụ sắp xếp tuần tự trực quan theo luồng quy trình công việc, dễ hiểu.

Mua dịch vụ tốt bên cạnh phần mềm tốt

Trong thời gian bảo hành phải được sử dụng những tính năng mới nhất, kể cả các tính năng thay đổi do quy định mới của cơ quan Nhà nước. Mua phần mềm là mua dịch vụ, đơn vị cung cấp chăm sóc hậu bán hàng chu đáo như trung tâm tư vấn, giải đáp thắc mắc của khách hàng, tài liệu hướng dẫn tự học,...

Các lời khuyên trên đây sẽ giúp bạn “chấm điểm” phần mềm kế toán một cách chính xác, phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp mình. “Bộ não tài chính” của doanh nghiệp khi có công cụ hỗ trợ hữu hiệu, sẽ phát huy tối đa năng suất, hỗ trợ phát triển bài bản ngay từ giai đoạn mới thành lập.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng
Theo Trí Thức Trẻ
[Read More...]


Thực hiện VNACCS/VCIS tại TP.HCM: Chủ yếu vướng mắc về kỹ thuật



Sau 3 ngày triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS tại Cục Hải quan TP.HCM mặc dù gần 3.000 tờ khai hải quan đã được thông quan thông suốt, nhưng đã phát sinh những vướng mắc cần tháo gỡ.

dịch vụ làm báo cáo tài chính tại tỉnh Bình Dương Các chuyên gia Nhật Bản hướng dẫn Hải quan cửa Tân Cảng.

Điều dễ nhận thấy thấy nhất tại các chi cục đã triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS, các chuyên gia của Nhật Bản, Tổ hỗ trợ của Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan TP.HCM và các công ty cung cấp phần mềm luôn túc trực sẵn sàng hỗ trợ, giải quyết ngay các vướng mắc phát sinh cho cả DN và cơ quan Hải quan.

Chính vì thế, theo lãnh đạo các chi cục, chưa có phát sinh vướng mắc lớn trong 3 ngày triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS. Tuy nhiên, đã phát sinh một số vướng mắc về kĩ thuật, về các thao tác do một số DN còn lúng túng trong việc khai báo, còn khai sai các mã loại hình, mã chi cục, mã đội… Tuy nhiên, những vướng này đã được Tổ tư vấn VNACCS/VCIS tại các chi cục hướng dẫn, tháo gỡ kịp thời, nên không xảy ra trường hợp nào bị ách tắc hàng hóa do vướng mắc.

Sau 3 ngày triển khai, tại 3 chi cục hải quan cửa khẩu cảng biển TP.HCM đã có gần 3.000 tờ khai hải quan được thông quan trên Hệ thống VNACCS/VCIS. Trong đó, tại Chi cục Hải quan cảng Sài Gòn khu vực 1 có số lượng tờ khai thông quan lớn nhất trên 2.000 tờ khai.

Theo đánh giá của các chi cục hải quan, hệ thống VNACCS/VCIS vận hành khá tốt, chương trình chạy nhanh, rất thuận lợi cho cơ quan Hải quan và DN trong thông quan hàng hóa. Tuy những vướng mắc phát sinh đã được tháo gỡ ngay để thông quan hàng hóa cho DN, nhưng cũng có những vướng mắc cần được hướng dẫn cụ thể.

Chẳng hạn, đối với tờ khai xuất khẩu có nhiều container, trong quá trình khai báo hải quan, DN còn đang đóng hàng, nên chưa có số lượng container chính xác để khai báo. Để tạo thuận lợi cho DN, cơ quan Hải quan kiến nghị, cho phép DN bổ sung trước khi xác nhận qua khu vực giám sát.

Hay đối với trường hợp, hàng xuất đông lạnh đã đóng container và đã thông quan. Do container lạnh thường xuyên bị hỏng phải sang hàng hóa qua container khác. Tuy nhiên, trên hệ thống DN không được khai báo sửa đổi số container, vì theo quy định DN không được phép sửa sau thông quan những thông tin không liên quan đến thuế.

Qua kiểm tra tờ khai luồng Xanh, Chi cục Hải quan cảng Sài Gòn khu vực 1 phát hiện 2 tờ khai máy móc cũ đã qua sử dụng nên đã quyết định dừng thông quan đột xuất, chuyển kiểm tra thực tế hàng hóa. Tuy nhiên khi thao tác duyệt dừng thông quan trên chương trình lại báo lỗi tờ khai chưa được cấp phép. Theo hướng dẫn của Cục Công nghệ Thông tin- Thống kê Hải quan (Tổng cục Hải quan), tờ khai phải được thông quan trên hệ thống sau đó chương trình mới cho dừng thông quan. Với vướng mắc này, Cục Hải quan TP.HCM đề xuất được chỉnh sửa chương trình theo hướng cho phép dừng thông quan tờ khai ngay khi phát hiện nghi vấn mà không cần phải nhập máy thông quan cho tờ tờ khai.

lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng Đối với việc khai bổ sung trong trường hợp doanh nghiệp chấp nhận tăng giá do cơ quan Hải quan xác định không qua tham vấn, theo quy trình và các công văn hướng dẫn của Tổng cục Hải quan, DN phải thực hiện khai bổ sung theo giá đã chấp nhận. Tuy nhiên, DN cho rằng, nếu thực hiện như vậy sẽ kéo dài thời gian thông quan hàng hóa do DN phải về khai bổ sung và truyền lại dữ liệu.

Để giải quyết vướng mắc này, Cục Hải quan TP.HCM đề xuất, khi có đủ cơ sở để bác bỏ giá khai báo của DN, cơ quan Hải quan sửa luôn trên hệ thống, thông báo cho DN tiền thuế tăng tương ứng để nộp bổ sung.

Ngoài ra, một số doanh nghiệp đề nghị hướng dẫn đối với trường hợp, nếu doanh nghiệp khai bổ sung giá tính thuế theo yêu cầu của cơ quan Hải quan, trên tờ khai in ra số tiền trị giá sẽ tăng hơn so với hợp đồng, invoice. Khi doanh nghiệp chuyển tiền thanh toán sẽ khó vì Ngân hàng đối chiếu số tiền tiền thuế không trên các chứng từ.

Ngoài ra, còn một số vướng mắc về kĩ thuật liên quan đến thu phí, lệ phí đối với mặt hàng tiêu, điều, cà phê của các DN thuộc các hiệp hội. Theo quy định, nếu doanh nghiệp thuộc hiệp hội thì phải nộp lệ phí. Doanh nghiệp không phải là thành viên hiệp hội thì không phải nộp lệ phí khi xuất khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, hiện nay trên Hệ thống VNACCS/VCIS không thể phân biệt doanh nghiệp thành viên hay không không thành viên, nên trên tờ khai hải quan, nếu doanh nghiệp khai báo xuất khẩu các mặt hàng tiêu, điều, cà phê thì trên tờ khai cũng thể hiện ngay số tiền lệ phí phải nộp.

Vướng mắc trên đã được Cục Hải quan TP.HCM báo cáo Tổng cục Hải quan. Trước mắt, các chi cục tạm thời thực hiện nghiệp vụ trên hệ thông để thông quan. Đồng thời, giữ lại các chứng từ bản photocopy, ghi nhận vào sổ theo dõi chờ hướng dẫn
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức Nguồn Báo Hải Quan
[Read More...]


Tháng 6: CPI tại TPHCM tăng mạnh hơn Hà Nội



Tại TPHCM, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 tăng 0,58% so với tháng 5 và tăng 5,52% so với cùng kỳ năm trước. Tại Hà Nội, CPI tháng 6 tăng 0,08% so với tháng trước.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại bình dương

Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh vừa công bố các chỉ số kinh tế vĩ mô trên địa bàn. Theo đó, CPI tháng 6 tăng 0,58% so với tháng 5, chủ yếu do giá dịch vụ y tế tăng 11,65%. Trong 11 nhóm mặt hàng có 8 nhóm hàng tăng giá là ăn uống, may mặc, nhà ở điện nước chất đốt, thiết bị đồ dùng gia đình, dược phẩm dịch vụ y tế, giáo dục và hàng hóa dịch vụ khác.

Có 3 nhóm hàng giảm giá là đồ uống thuốc lá, bưu chính viễn thông và văn hóa giải trí.

Trong mặt hàng lương thực, thực phẩm thì sữa đứng đầu về mức tăng giá với 2,4%. Gas đứng thứ 2 với mức tăng 1,33%. Xếp ngay sau đó là dầu mỡ ăn và chất béo khác với 1,11%. Các mặt hàng như lương thực, thịt chế biến giảm giá so với tháng trước. Dịch vụ ăn uống ngoài gia đình không biến động.

dịch vụ thành lập doanh nghiệp công ty tại long biên
So với tháng 12/2013, giá tiêu dùng tăng 1,09%, với mức tăng cao nhất thuộc về nhóm thuốc và dịch vụ y tế là 8,53%, giao thông là nhóm có mức tăng xếp thứ hai với mức tăng 2,46% mà chủ yếu do xăng dầu tăng 4,09%. Xếp thứ ba là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (tăng 1,54%) trong đó thực phẩm tăng 2,44%. Như vậy bình quân mỗi tháng trong 6 tháng đầu năm CPI tăng 0,89%.

Tại Hà Nội, Cục thống kê Hà Nội cho biết, CPI tháng 6 tăng 0,08% so với tháng trước và tăng 6,43% so cùng kỳ. Có 9/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng trong tháng này, tuy nhiên, mức tăng không đáng kể. Có 2 nhóm có chỉ số giá giảm là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (giảm 0,27%) và nhóm bưu chính, viễn thông (giảm 0,17%).

Trong nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, lương thực giảm 0,93%, thực phẩm giảm 0,32%. Theo Cục Thống kê Hà Nội, nguyên nhân khiến giá gạo giảm là do nguồn cung dồi dào, miền Bắc được mùa, năng suất cao. Các mặt hàng khác trong nhóm lương thực như mì tôm, bánh đa, khoai lang... giữ giá ổn định.

Hầu hết các mặt hàng trong nhóm thực phẩm đều giảm. Trong đó, rau xanh giảm do thời tiết thuận lợi, một số loại rau chính vụ tăng trưởng tốt. Giá thịt lợn giảm, giá thịt bò ổn định. Sau một thời gian giảm giá do tâm lý e ngại dịch cúm gia cầm của người tiêu dùng, giá gia cầm đã tăng trở lại, nhưng mức tăng không cao. Ăn uống ngoài gia đình tăng nhẹ (tăng 0,22%) so tháng trước.

Trong tháng này, chỉ số giá vàng giảm 0,92% và chỉ số giá USD tăng 0,36% so với tháng trước.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại vĩnh phúc
Nguồn Tạp Chí Thuế
[Read More...]


Bình Dương: Tập trung chống thất thu ngân sách



Để hoàn thành dự toán thu ngân sách được giao 31.500 tỉ đồng, UBND tỉnh Bình Dương đã ban hành Chỉ thị về việc tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế và phối hợp trong công tác chống thất thu thuế, chống các hành vi gian lận thuế, khai thác nguồn thu cho ngân sách.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quảng ninh
Theo đó, cơ quan Thuế chủ động báo cáo với UBND các cấp về tình hình thu thuế, những vấn đề vướng mắc, khó khăn, liên quan đến công thuế tại địa phương; đề xuất biện pháp phối hợp với các ngành để thực hiện tốt công tác chống thất thu, khai thác nguồn thu. UBND tỉnh Bình Dương cũng giao trách nhiệm cho các sở, ngành trong công tác phối hợp chống thất thu, chống các hành vi gian lận thuế, khai thác tốt nguồn thu…

Theo Chỉ thị, ngoài việc thực hiện tốt các quy định pháp luật về thuế đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế theo quy định của pháp luật, Cục Thuế Bình Dương tiếp tục cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thời gian làm thủ tục nộp thuế, tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cho người nộp thuế, tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cho người nộp thuế; triển khai sâu rộng việc kê khai thuế qua mạng internet.

Giải quyết ngay các chính sách ưu đãi về thuế, lệ phí theo quy định của Nhà nước đối với các doanh nghiệp, cá nhân nhằm hỗ trợ cải thiện đời sống, phát triển sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng xuất khẩu, góp phần ổn định, tăng trưởng kinh tế để tăng thu ngân sách.

Đặc biệt triển khai quyết liệt các biện pháp chống thất thu ngân sách, thực hiện kịp thời và kiểm soát chẽ chẽ việc hoàn thuế giá trị gia tăng; đẩy mạnh việc xử lý và thu hồi nợ thuế, giảm tỷ lệ nợ đọng thuế.

lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại hải phòng
Tập trung thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề, như: chuyển giá, chuyển nhượng bất động sản, đầu tư vốn, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng nông sản của các doanh nghiệp có trụ sở tại các địa phương không có nguồn nguyên liệu, các doanh nghiệp mới thành lập đăng kí đa ngành nghề nhưng số vốn đăng kí thấp… kịp thời xây dựng và triển khai phần mềm ứng dụng kiểm tra hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tại cơ quan Thuế.

Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, như: Hải quan, Quản lý thị trường, Ngân hàng Nhà nước… kiên quyết đấu tranh với các loại tội phạm lợi dụng chính sách pháp luật để trốn thuế, gian lận thuế.

Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Thuế, hỗ trợ cung cấp thông tin về người nộp thuế khi cần thiết, áp dụng các biện pháp để phục vụ cho công tác cưỡng chế thu hồ nợ thuế theo quy định của pháp luật. Giám sát việc thanh toán các khoản tiền lớn, nhất là các khoản thanh toán bất thường…

Sở Công Thương tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát giá một số một hàng nhạy cảm, ngăn chặn tình trạnng kinh doanh hàng lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng…

Được biết, thu ngân sách 6 tháng đầu năm của tỉnh Bình Dương đạt 15.000 tỷ đồng, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước và đạt 47,6% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; trong đó thu nội địa 10.900 tỷ đồng, đạt 48% dự toán HĐND tỉnh giao và tăng 11% so với cùng kỳ năm trước.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại thủ đức
Nguồn Báo Hải Quan
[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page