Thông tư số 20/2017/TT-BTC: Sửa đổi, bổ sung đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt



Chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 20/4/2017, Thông tư số 20/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 8 Thông tư số 195/2015/TT-BTC ngày 24/11/2015 được nhiều doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu đánh giá là kịp thời theo yêu cầu thực tiễn.

Thực tế, Thông tư số 195/2015/TT-BTC ngày 24/11/2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016, tuy nhiên trước những yêu cầu phát sinh từ thực tiễn, Bộ Tài chính tiếp tục điều chỉnh, sửa đổi đảm bảo hài hòa, hợp lý.

Theo đó, tại Thông tư số 20/2017/TT-BTC, Bộ Tài chính quy định: Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB ) đối với hàng hóa chịu thuế TTĐB nhập khẩu được khấu trừ số thuế TTĐB đã nộp ở khâu nhập khẩu khi xác định số thuế TTĐB phải nộp bán ra trong nước.

Số thuế TTĐB được khấu trừ tương ứng với số thuế TTĐB của hàng hóa chịu thuế TTĐB nhập khẩu bán ra và chỉ được khấu trừ tối đa bằng tương ứng số thuế TTĐB tính được ở khâu bán ra trong nước. Đối với số thuế TTĐB không được khấu trừ thuế, người nộp thuế được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

Cùng với đó, Thông tư cũng quy đinh rõ các điều kiện khấu trừ thuế TTĐB được quy định như sau:

Một là, đối với trường hợp nhập khẩu nguyên liệu chịu thuế TTĐB để sản xuất hàng hóa chịu thuế TTĐB và trường hợp nhập khẩu hàng hóa chịu thuế TTĐB thì chứng từ để làm căn cứ khấu trừ thuế TTĐB là chứng từ nộp thuế TTĐB khâu nhập khẩu;

Hai là, trường hợp mua nguyên liệu trực tiếp của nhà sản xuất trong nước thì cần phải đáp ứng cấc điều kiện sau:

Hợp đồng mua bán hàng hóa (trong hợp đồng phải có nội dung thể hiện hàng hóa do cơ sở bán hàng trực tiếp sản xuất), Bản sao Giấy chứng nhận kinh doanh của cơ sở bán hàng (có chữ ký, đóng dấu của cơ sở bán hàng); Chứng từ thanh toán qua ngân hàng; Chứng từ để làm căn cứ khấu trừ thuế TTĐB là hóa đơn GTGT khi mua hàng.

Theo đó, số thuế TTĐB mà đơn vị mua hàng đã trả khi mua nguyên liệu được xác định = giá tính thuế TTĐB nhân (x) thuế suất thuế TTĐB. Trong đó:

Giá tính thuế TTĐB = (Giá mua chưa có thuế TTĐB (thể hiện trên hóa đơn GTGT) - Thuế bảo vệ môi trường (nếu có)): (1 + thuế suất thuế TTĐB )
Việc khấu trừ tiền thuế TTĐB được thực hiện khi kê khai thuế TTĐB, thuế TTĐB phải nộp được xác định theo công thức sau:

Số thuế TTĐB phải nộp = Số thuế TTĐB của hàng hóa chịu thuế TTĐB được bán ra trong kỳ - Số thuế TTĐB đã nộp đối với hàng hóa, nguyên liệu ở khâu nhập khẩu hoặc số thuế TTĐB đã trả ở khâu nguyên liệu mua vào tương ứng với số hàng hóa được bán ra trong kỳ.
Nếu chưa xác định được chính xác số thuế TTĐB đã nộp (hoặc đã trả) cho số nguyên vật liệu tương ứng với số sản phẩm tiêu thụ trong kỳ thì có thể căn cứ vào số liệu của kỳ trước để tính số thuế TTĐB được khấu trừ và sẽ xác định theo số thực tế vào cuối quý, cuối năm.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định, trong mọi trường hợp, số thuế TTĐB được phép khấu trừ tối đa không vượt quá số thuế TTĐB tính cho phần nguyên liệu theo tiêu chuẩn định mức kinh tế kỹ thuật của sản phẩm. Cơ sở sản xuất phải đăng ký định mức kinh tế kỹ thuật của sản phẩm với cơ quan thuế trực tiếp quản lý cơ sở.

Đối với các doanh nghiệp được phép sản xuất xăng E5, E10, việc kê khai nộp thuế, khấu trừ thuế TTĐB được thực hiện tại cơ quan thuế địa phương nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính. Số thuế TTĐB chưa được khấu trừ hết trong kỳ của xăng E5, E10 được bù trừ với số thuế TTĐB phải nộp của hàng hóa, dịch vụ khác.

Người nộp thuế TTĐB thực hiện nộp Tờ khai thuế TTĐB theo Mẫu số 01/TTĐB và Bảng xác định thuế TTĐB được khấu trừ (nếu có) của nguyên liệu mua vào, hàng hóa nhập khẩu (Mẫu số 01-1/TTĐB ) được ban hành kèm theo Thông tư này”.


Theo Tạp chí tài chính
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Nâng cấp phần mềm hỗ trợ kê khai thuế htkk 3.4.2



Nâng cấp phần mềm hỗ trợ kê khai thuế htkk 3.4.2
Từ ngày 07/4/2017, khi kê khai tờ khai thuế có liên quan đến nội dung nâng cấp nêu trên, tổ chức cá nhân nộp thuế sẽ sử dụng các mẫu biểu kê khai tại ứng dụng HTKK 3.4.2, iHTKK 3.4.2 thay cho các phiên bản trước đây.

 Hướng dẫn sử dụng ứng dụng bạn xem thêm tại địa chỉ sau: 
+       Ứng dụng HTKK phiên bản 3.4.2:
http://www.gdt.gov.vn/wps/portal/home/hotrokekhai
+       Ứng dụng iHTKK phiên bản 3.4.2: Thực hiện kê khai tại http://kekhaithue.gdt.gov.vn

Tải phần mềm hỗ trợ kê khai về:>> HTKK 3.4.2
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 


Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Giảm mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ 01/6/2017




Nghị định 44/2017/NĐ-CP quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Ngày 14 tháng 04 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ký ban hành Nghị định số 44/2017/NĐ-CP Quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.


Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người sử dụng lao động vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Điều 2. Đối tượng áp dụng
Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc (sau đây gọi tắt là người lao động), bao gồm:
a) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và viên chức.
b) Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu.
c) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân.

d) Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí.
đ) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên và người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng. Không bao gồm người lao động là người giúp việc gia đình.
e) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý Điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương.
Người sử dụng lao động theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội.

Điều 3. Mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong bảo hiểm xã hội bắt buộc
Người sử dụng lao động hằng tháng đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 44 Luật an toàn, vệ sinh lao động với mức như sau:
Mức 0,5 % trên quỹ tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của người lao động quy định tại các Điểm a, b, d, đ và e Khoản 1 Điều 2 Nghị định này.

Trường hợp người sử dụng lao động là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm hoặc khoán được thực hiện hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần.
Mức 0,5% trên mức lương cơ sở đối với mỗi người lao động quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 2 Nghị định này.
Mức đóng quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2019.

Điều 4. Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 06 năm 2017.
Các quy định tại Điều 4 và khoản 1 Điều 34 của Nghị định số 37/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.
Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng được áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2018.

Theo đó, người sử dụng lao động chỉ còn đóng 0.5 % (hiện hành là 1.0%) trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Cách viết đúng trên Hóa đơn bán hàng năm 2017




Tại Điểm k, Khoản 1, Điều 4 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 1, Điều 3 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015, quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.


Cụ thể,Hóa đơn được thể hiện bằng tiếng Việt. Trường hợp cần ghi thêm chữ nước ngoài thì chữ nước ngoài được đặt bên phải trong ngoặc đơn ( ) hoặc đặt ngay dưới dòng tiếng Việt và có cỡ nhỏ hơn chữ tiếng Việt.

Chữ số ghi trên hóa đơn là các chữ số tự nhiên: 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9; sau chữ số hàng nghìn, triệu, tỷ, nghìn tỷ, triệu tỷ, tỷ tỷ phải đặt dấu chấm (.); nếu có ghi chữ số sau chữ số hàng đơn vị phải đặt dấu phẩy (,) sau chữ số hàng đơn vị.

Trường hợp doanh nghiệp sử dụng phần mềm kế toán có sử dụng dấu phân cách số tự nhiên là dấu phẩy (,) sau chữ số hàng nghìn, triệu, tỷ, nghìn tỷ, triệu tỷ, tỷ tỷ và sử dụng dấu chấm (.) sau chữ số hàng đơn vị trên chứng từ kế toán; chữ viết trên hóa đơn là chữ tiếng Việt không dấu thì các doanh nghiệp được lựa chọn sử dụng chữ viết là chữ tiếng Việt không dấu và dấu phẩy (,), dấu chấm (.) để phân cách chữ số ghi trên hóa đơn như trên.

Dòng tổng tiền thanh toán trên hóa đơn phải được ghi bằng chữ. Các chữ viết không dấu trên hóa đơn phải đảm bảo không dẫn tới cách hiểu sai lệch nội dung của hóa đơn.

Trước khi sử dụng chữ viết trên hóa đơn là chữ tiếng Việt không dấu và chữ số sử dụng dấu phân cách số tự nhiên là dấu phẩy (,) sau chữ số hàng nghìn, triệu, tỷ, nghìn tỷ, triệu tỷ, tỷ tỷ và sử dụng dấu chấm (.) sau chữ số hàng đơn vị trên hóa đơn, các doanh nghiệp phải có văn bản đăng ký với cơ quan thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung hóa đơn lập theo cách ghi chữ viết, chữ số đã đăng ký.

Mỗi mẫu hóa đơn sử dụng của một tổ chức, cá nhân phải có cùng kích thước (trừ trường hợp hóa đơn tự in trên máy tính tiền được in từ giấy cuộn không nhất thiết c

Thông thường, việc ghi số tiền bằng chữ có thêm chữ “y” hay “chẵn” là không cần thiết nhưng cũng không gây hiểu sai lệch nội dung của hóa đơn nên hóa đơn này vẫn được xem là hóa đơn hợp lệ nếu bảo đảm các quy định tại Điều 16 Thông tư số 39/2014/TT-BTC đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 7 Điều 3 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính.

Thông tư cũng hướng dẫn một số trường hợp hóa đơn không nhất thiết có đầy đủ các nội dung bắt buộc, cụ thê:

Trường hợp, tổ chức kinh doanh bán hàng hóa, dịch vụ có thể tạo, phát hành và sử dụng hóa đơn không nhất thiết phải có chữ ký người mua, dấu của người bán trong trường hợp sau: hóa đơn điện; hóa đơn nước; hóa đơn dịch vụ viễn thông; hóa đơn dịch vụ ngân hàng đáp ứng đủ điều kiện tự in theo hướng dẫn tại Thông tư này.

Các trường hợp không nhất thiết phải có đầy đủ các nội dung bắt buộc, trừ trường hợp nếu người mua là đơn vị kế toán yêu cầu người bán phải lập hóa đơn có đầy đủ các nội dung, được Thông tư nêu rõ như sau:

Một là, Hóa đơn tự in của tổ chức kinh doanh siêu thị, trung tâm thương mại được thành lập theo quy định của pháp luật không nhất thiết phải có tên, địa chỉ, mã số thuế, chữ ký của người mua, dấu của người bán.

Hai là, đối với tem, vé: Trên tem, vé có mệnh giá in sẵn không nhất thiết phải có chữ ký người bán, dấu của người bán; tên, địa chỉ, mã số thuế, chữ ký người mua.

Ba là, đối với doanh nghiệp sử dụng hóa đơn với số lượng lớn, chấp hành tốt pháp luật thuế, căn cứ đặc điểm hoạt động kinh doanh, phương thức tổ chức bán hàng, cách thức lập hóa đơn của doanh nghiệp và trên cơ sở đề nghị của doanh nghiệp, Cục thuế xem xét và có văn bản hướng dẫn hóa đơn không nhất thiết phải có tiêu thức “dấu của người bán”.

Ngoài ra, các trường hợp khác theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.


Theo Tạp Chí Tài Chính
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Giải đáp về quy định hoàn thuế giá trị gia tăng 2017 của Tổng cục thuế



Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính đã có hướng dẫn cụ thể đối với Công ty TNHH Thương mại XNK Việt Hàn (TP. Hà Nội) việc hoàn thuế GTGT.

Tổng cục Thuế hướng dẫn:Khoản 6, Điều 1 Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT quy định: “Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó. Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sót thì được kê khai, khấu trừ bổ sung trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế”.

Theo Khoản 7, Điều 1 Luật số 31/2013/QH13: “Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo; trường hợp lũy kế sau ít nhất 12 tháng tính từ tháng đầu tiên hoặc ít nhất sau 4 quý tính từ quý đầu tiên phát sinh số thuế GTGT chưa được khấu trừ mà vẫn còn số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế”.

Căn cứ Khoản 3 Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế:

Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo”.

Khoản 1, Điều 10 Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định khấu trừ, hoàn thuế: “Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc trong quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo; trường hợp tích lũy kế sau 12 tháng tính từ tháng đầu tiên hoặc sau 4 quý tính từ quý đầu tiên phát sinh số thuế GTGT chưa được khấu trừ mà vẫn còn số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế”.

Theo Khoản 6, Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 của Chính phủ: “Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc trong quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo”.

Căn cứ các quy định nêu trên và theo báo cáo tài chính, hồ sơ kê khai của Công ty TNHH Thương mại XNK Việt Hàn gửi Cơ quan thuế qua hệ thống ứng dụng Ngành thuế iHTKK) thì số tiền chiết khấu thương mại là bằng 0 đồng. Công ty thực hiện mua thương mại nội địa mặt hàng điện tử, điện lạnh không thực hiện nhập khẩu hàng hóa có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa tồn kho đến tháng 6/2016 là 102,4 tỷ đồng.

Tại kỳ kê khai tháng 6/2016 và tháng 7/2016, Công ty không đề nghị hoàn thuế GTGT. Đến tháng 8/2016, Công ty đề nghị hoàn trên tờ khai thuế GTGT và lập giấy đề nghị hoàn trả khoản thu ngân sách Nhà nước số tiền 78 tỷ đồng với lý do hoàn số thuế GTGT chưa khấu trừ hết lũy kế 12 tháng của số thuế GTGT còn khấu trừ tại thời điểm trước ngày 1/7/2016 (là thời điểm Luật 106/2016/QH13 có hiệu lực thi hành).

Tuy nhiên, trong tháng 7 và tháng 8/2016, Công ty có thuế GTGT của hàng hóa bán ra là 38 tỷ đồng, đồng thời cũng mua hàng hóa với thuế GTGT đầu vào là 33,6 tỷ đồng.

Từ tháng 7/2016 đến tháng 1/2017, Công ty có số thuế GTGT phát sinh của hàng hóa bán ra là 125,7 tỷ đồng; đồng thời, Công ty cũng mua vào với số thuế GTGT đầu vào là 124 tỷ đồng.

Như vậy, số thuế GTGT còn chưa khấu trừ hết của Công ty hàng tháng bản chất là thuế GTGT đầu vào của hàng mới mua dự trữ chưa bán ra.

Số thuế GTGT chưa khấu trừ hết tại thời điểm ngày 30/6/2016 của Công ty đến nay đã được khấu trừ hết với thuế GTGT đầu ra của hàng tồn kho khi Công ty bán hàng (Công ty TNHH Thương mại XNK Việt Hàn không có hoạt động xuất khẩu hàng hóa).

Từ ngày 1/7/2016, theo quy định tại Khoản 3, Điều 1 Luật số 106/2016/QH13; Khoản 6, Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP thì cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo, không được hoàn thuế đối với trường hợp lũy kế âm liên tục 12 tháng hoặc 4 quý.


Theo chinhphu.vn
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Hướng dẫn quy định về lập hóa đơn với hàng khuyến mại



Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 sửa đổi bổ sung Điểm b, Khoản 1, Điều 16 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014, được Bộ Tài chính ban hành, hướng dẫn về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đã quy định rõ: Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động.

Cụ thể, tại Thông tư 39/2014/TT-BTC, sửa đổi, bổ sung Điểm 2.4 Phụ lục 4 quy định về trường hợp sử dụng hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa, dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu, cho, biếu, tặng đối với tổ chức kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ được Thông tư hướng dẫn:

Thứ nhất, đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải lập hóa đơn, trên hóa đơn ghi tên và số lượng hàng hóa, ghi rõ là hàng khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu và thực hiện theo hướng dẫn của pháp luật về thuế GTGT.

Thứ hai, đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động thì phải lập hóa đơn GTGT (hoặc hóa đơn bán hàng), trên hóa đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như hóa đơn xuất bán hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng””.

Về việc lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, căn cứ Điểm 2.5, Khoản 2, Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:

Hàng hóa, dịch vụ áp dụng hình thức chiết khấu thương mại dành cho khách hàng thì trên hóa đơn GTGT ghi giá bán đã chiết khấu thương mại dành cho khách hàng, thuế GTGT, tổng giá thanh toán đã có thuế GTGT.

Nếu việc chiết khấu thương mại căn cứ vào số lượng, doanh số hàng hóa, dịch vụ thì số tiền chiết khấu của hàng hóa đã bán được tính điều chỉnh trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau. Trường hợp số tiền chiết khấu được lập khi kết thúc chương trình (kỳ) chiết khấu hàng bán thì được lập hóa đơn điều chỉnh kèm bảng kê các số hóa đơn cần điều chỉnh, số tiền, tiền thuế điều chỉnh. Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, bên bán và bên mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào”.

Về giá tính thuế GTGT, tại Khoản 5, Khoản 22, Điều 7 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:

Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại, giá tính thuế được xác định bằng không (0); trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại nhưng không thực hiện theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải kê khai, tính nộp thuế như hàng hóa, dịch vụ dùng để tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho.

Một số hình thức khuyến mại cụ thể được thực hiện như sau:

Đối với hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, dịch vụ trước đó thì giá tính thuế GTGT là giá bán đã giảm áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo”.

Giá tính thuế đối với các loại hàng hóa, dịch vụ quy định từ Khoản 1 đến Khoản 21 Điều này bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng.

Trường hợp số tiền chiết khấu được lập khi kết thúc chương trình (kỳ) chiết khấu hàng bán thì được lập hóa đơn điều chỉnh kèm bảng kê các số hóa đơn cần điều chỉnh, số tiền, tiền thuế điều chỉnh. Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, bên bán và bên mua kê khai điều chỉnh doanh thu mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào”.

Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức chiết khấu thương mại dành cho khách hàng (nếu có) thì giá tính thuế GTGT là giá bán đã chiết khấu thương mại dành cho khách hàng. Trường hợp việc chiết khấu thương mại căn cứ vào số lượng, doanh số hàng hóa, dịch vụ thì số tiền chiết khấu của hàng hóa đã bán được tính điều chỉnh trên hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ của lần mua cuối cùng hoặc kỳ tiếp sau.
Căn cứ hướng dẫn trên, trường hợp thực hiện khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại hoặc thực hiện chiết khấu thương mại thì giá tính thuế GTGT được thực hiện theo hướng dẫn tại Khoản 5, Khoản 22, Điều 7 Thông tư số 219/2013/TT-BTC.

Việc lập hóa đơn thực hiện theo hướng dẫn tại Khoản 9, Điều 3 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 và Điểm 2.5, Khoản 2, Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC


Theo Tạp Chí Tài Chính
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Luật Kế toán mới và ứng dụng CNTT trong kế toán doanh nghiệp



Đáp ứng yêu cầu hội nhập về kế toán – tài chính quốc tế, Quốc hội đã thông qua Luật Kế toán năm 2015 – Luật số 88/2015/QH13 gồm 6 Chương, 74 Điều. Một trong những mục tiêu của việc sửa đổi Luật Kế toán nhằm nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hệ thống kế toán Việt Nam, qua đó, nâng cao chất lượng của công tác kế toán với vai trò là công cụ quản lý tài chính, vốn, tài sản của nhà nước, của doanh nghiệp, là công cụ quản lý, giám sát của Nhà nước. Luật Kế toán năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2017.

Những điểm mới về ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán

Nỗ lực đưa ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô thời gian qua đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, trong đó phải kể đến vai trò của CNTT trong công tác kế toán.

Các quy định của pháp luật hiện hành về ứng dụng CNTT trong tổ chức hệ thống kế toán tại Việt Nam đã được thể hiện kể từ Luật Kế toán Việt Nam - Luật số 03/2003/QH11 (Luật Kế toán 2003). Đáp ứng yêu cầu của hội nhập, sau hơn 13 năm triển khai thực hiện, với những yêu cầu, đổi mới từ thực tiễn Quốc hội đã thông qua Luật Kế toán sửa đổi - Luật số 88/2015/QH13 (Luật Kế toán 2015) thay thế cho Luật Kế toán 2003. So với Luật Kế toán 2003, Luật số 88/2015/QH13 đã đề cập nhiều hơn tới các quy định ứng dụng CNTT vào lĩnh vực kế toán. Điển hình như:

- Về quy định chứng từ điện tử: Luật Kế toán 2015 đã quy định cụ thể hơn về giá trị của chứng từ điện tử: “Khi chứng từ bằng giấy được chuyển thành chứng từ điện tử để giao dịch, thanh toán hoặc ngược lại thì chứng từ điện tử có giá trị để thực hiện nghiệp vụ kinh tế, tài chính, chứng từ bằng giấy chỉ có giá trị lưu giữ để ghi sổ, theo dõi và kiểm tra, không có hiệu lực để giao dịch, thanh toán”. Vấn đề này, Luật Kế toán 2003 chưa được cụ thể hóa mà chỉ được đề cập đến trong Nghị định 129/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Kế toán 2003;

- Về chữ ký trên chứng từ điện tử: Luật Kế toán 2015 quy định cụ thể hơn, chữ ký của chứng từ điện tử đều có giá trị như chứng từ bằng giấy;

- Về lập và lưu trữ chứng từ kế toán: Theo quy định của Luật Kế toán 2015 thì chứng từ không nhất thiết phải in ra giấy như quy định của Luật Kế toán 2003, mà có thể thực hiện lưu trữ trên các phương tiện điện tử khi đủ điều kiện bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin dữ liệu và tra cứu được trong thời hạn lưu trữ.

Điều này hoàn toàn phù hợp với Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 (Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác; Thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu. Thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc khi đủ điều kiện);

- Về mở sổ, ghi sổ, khóa sổ và lưu trữ sổ kế toán: Tương tự như lập và lưu trữ chứng từ, việc lưu trữ sổ kế toán theo Luật Kế toán 2015 không nhất thiết phải in sổ kế toán ra giấy và đóng thành quyển riêng cho từng kỳ kế toán năm, mà có thể thực hiện lưu trữ sổ kế toán trên các phương tiện điện tử khi bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin dữ liệu và tra cứu được trong thời hạn lưu trữ;

- Về chữa sổ kế toán: Luật Kế toán 2003 và Luật Kế toán 2015 đều cho phép sửa chữa sổ kế toán theo đúng phương pháp chữa sổ quy định, nếu đơn vị ghi sổ kế toán bằng phương tiện điện tử thì ghi điều chỉnh bằng cách lập “chứng từ điều chỉnh” và ghi thêm số chênh lệch cho đúng.

Trên cơ sở nền tảng của Luật Kế toán, Luật Giao dịch điện tử, Luật CNTT, doanh nghiệp (DN) Việt Nam đã và đang tập trung ứng dụng CNTT vào công tác kế toán theo ba mức độ sau:

Một là, mức độ sơ khai: “xử lý bán thủ công” (phổ biến vào những năm 1990-1995);
Hai là, mức độ tự động hóa công tác kế toán (phổ biến từ những năm 1995 - nay);
Ba là, mức độ tự động hóa công tác quản lý nguồn lực, trong đó có kế toán.

Hiện nay Việt Nam đang trong giai đoạn thứ hai của quá trình đầu tư ứng dụng CNTT toàn diện để nâng cao năng lực quản lý và sản xuất kinh doanh của DN, trong đó bao gồm cả công tác kế toán. Cụ thể là ứng dụng tự động hóa công tác kế toán trên cơ sở DN thực hiện công tác kế toán với một phần mềm kế toán.

Doanh nghiệp Việt Nam ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán theo ba mức độ sau: Một là, mức độ sơ khai: “xử lý bán thủ công” (phổ biến vào những năm 1990-1995); Hai là, mức độ tự động hóa công tác kế toán (phổ biến từ những năm 1995-nay); Ba là, mức độ tự động hóa công tác quản lý nguồn lực, trong đó có kế toán.

Các gói phần mềm kế toán có thể đi kèm với một loạt các tính năng chuyên ngành hoặc một chương trình chung chung mà có thể được tùy chỉnh sao cho phù hợp với hoạt động kinh doanh của DN. Các tổ chức, cá nhân cung cấp phần mềm kế toán phải chịu trách nhiệm đảm bảo tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán theo quy định của Bộ Tài chính khi cung cấp cho các đơn vị kế toán.

Về hình thức kế toán và mẫu sổ kế toán, Điều 122, Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định: “Tùy theo đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý, DN được tự xây dựng hình thức ghi sổ kế toán cho riêng mình trên cơ sở đảm bảo thông tin về các giao dịch phải được phản ánh đầy đủ, kịp thời, dễ kiểm tra, kiểm soát và đối chiếu”... “DN được tự xây dựng biểu mẫu sổ kế toán cho riêng mình nhưng phải đảm bảo cung cấp thông tin về giao dịch kinh tế một cách minh bạch, đầy đủ, dễ kiểm tra, dễ kiểm soát và dễ đối chiếu...”.

Những vấn đề đặt ra

Nhìn chung, tất cả các văn bản pháp luật hiện nay đều đề cập khá đơn giản về việc áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính, không hướng dẫn hoặc quy định một cách chi tiết. Về hình thức kế toán, mẫu sổ kế toán, tuy đã được cụ thể hóa trong Thông tư 200/2014/TT-BTC nhưng không quy định bắt buộc về mẫu sổ, nội dung và phương pháp ghi chép đối với các loại sổ kế toán; quy trình ghi sổ kế toán...

Có nghĩa là khi DN ứng dụng CNTT vào công tác kế toán sẽ không bị áp đặt theo từng hình thức kế toán như trước đây. Vậy nhưng, ở Luật Kế toán 2003 lẫn Luật Kế toán 2015 lại cho phép sửa chữa, điều chỉnh sổ kế toán theo tinh thần Chuẩn mực kế toán VAS23 và VAS 29. Đây là nội dung tác động nhiều đến quá trình xử lý dữ liệu sổ kế toán trong trường hợp DN sử dụng phần mềm kế toán… Cụ thể:

Thứ nhất, cụm từ “dễ kiểm tra, kiểm soát và đối chiếu” nêu trong quy định mẫu sổ kế toán: “DN được tự xây dựng biểu mẫu sổ kế toán cho riêng mình nhưng phải đảm bảo cung cấp thông tin về giao dịch kinh tế một cách minh bạch, đầy đủ, dễ kiểm tra, dễ kiểm soát và dễ đối chiếu....” chỉ mang tính chung chung, lợi dụng kẽ hở này, DN sẽ xây dựng biểu mẫu rất “linh hoạt” khiến cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra... khó đưa ra yêu cầu cung cấp mẫu sổ kế toán cho đơn vị kế toán.

Mặt khác, đáp ứng quy định này, người làm công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đòi hỏi phải có được kiến thức tổng hợp, linh hoạt ứng xử để có thể hoàn thành chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của mình. Đặc biệt là phải có trình độ để truy xuất thông tin dữ liệu từ phần mềm kế toán qua Microsoft Excel để xem xét các sổ kế toán, các báo cáo của đơn vị kế toán.
Thứ hai, việc sửa chữa, điều chỉnh sổ kế toán, báo cáo tài chính khi phát hiện sai sót trọng yếu từ những năm trước cần phải điều chỉnh hồi tố khi đơn vị kế toán áp dụng phần mềm kế toán cũng là một nội dung gây trở ngại lớn đối với người xây dựng phần mềm kế toán.

Do đó, các đơn vị cung cấp phần mềm thường khuyến cáo các đơn vị kế toán khi bắt đầu áp dụng phần mềm kế toán phải hết sức thận trọng để quyết định chính sách kế toán, các ước tính kế toán của mình (ví dụ phương pháp tính giá hàng tồn kho, phương pháp khấu hao tài sản cố định...). Bởi lẽ, thông tin được điều chỉnh không những tác động đến sổ kế toán mà còn tác động đến thông tin trên báo cáo tài chính của nhiều kỳ kế toán có liên quan.

Mặt khác, đơn vị cung cấp thiết kế phần mềm kế toán cần phải cung cấp hoặc trình bày cơ chế kiểm soát “Dấu vết điều chỉnh, sửa chữa”, nội dung cụ thể cần được lưu ý như sau:

(i) Tự động ghi nhận các hành vi truy cập hệ thống, chỉnh sửa, thêm, xóa dữ liệu trên một tập tin riêng. Tập tin này phải được bảo mật cao nhất trong hệ thống, mặc định là không được phép xóa, người có quyền cao nhất trong hệ thống chỉ được xem và in ra dấu vết kiểm toán từ nội dung của tập tin này.
(ii) Việc chỉnh sửa số liệu của các chức năng kế toán tổng hợp phải độc lập với các chỉnh sửa số liệu trên các phân hệ khác; việc chỉnh sửa số liệu trên thông tin kế toán chi tiết không làm thay đổi hay ảnh hưởng đến sổ kế toán tổng hợp nếu chưa được sự đồng ý phê duyệt (thông qua mật khẩu và nhật ký ghi nhận “Dấu vết điều chỉnh, sửa chữa”) của người có trách nhiệm cao nhất trong đơn vị kế toán...

Thứ ba, Luật Kế toán 2013, Luật Kế toán 2015 và các văn bản chế độ kế toán hiện nay chỉ quy định các tổ chức, cá nhân cung cấp phần mềm kế toán phải chịu trách nhiệm đảm bảo tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán theo quy định của Bộ Tài chính khi cung cấp cho các đơn vị kế toán (Thông tư 103/2005/TT-BTC “hướng dẫn về tiêu chuẩn và điều kiện của phần mềm kế toán”). Theo quy định trên, các đơn vị xây dựng và cung cấp phần mềm hoạt động theo kiểu “trăm hoa đua nở” và với đa dạng sản phẩm trên thị trường phần mềm kế toán.

Ví dụ: Phân loại phần mềm kế toán theo quy mô của DN (lớn, vừa, nhỏ); phân loại phần mềm kế toán theo ngành nghề như: Chuyên ngành xây lắp, chuyên ngành sản xuất công nghiệp, chuyên ngành vận chuyển, logistics; phần mềm hành chính sự nghiệp... Điều này gây nên những khó khăn nhất định cho đơn vị kế toán trong việc mua sản phẩm đóng gói hay sản phẩm phần mềm đặt hàng thiết kế theo hoạt động của đơn vị.

Quan trọng hơn, khi Luật Kế toán quy định và cho phép ứng dụng CNTT vào công tác kế toán một cách cởi mở như vậy thì yêu cầu về trình độ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán buộc phải tinh thông trên nhiều lĩnh vực, nhiều phần mềm kế toán trên thị trường phần mềm kế toán và đây là yêu cầu khó có thể đáp ứng được ngay cho những người hoạt động trong lĩnh vực này.

Thứ tư, Luật Kế toán 2003 và Luật Kế toán 2015 không quy định cụ thể trong trường hợp DN ứng dụng phần mềm kế toán thì việc lập báo cáo tài chính như thế nào để đảm bảo nguyên tắc “tôn trọng nội dung, bản chất hơn hình thức”. Vì vậy, tại thời điểm lập báo cáo tài chính, nếu đơn vị cung cấp phần mềm kế toán “lập trình cứng” chương trình tự động kết xuất thông tin từ các tệp dữ liệu đã được ghi nhận sau khi nhập liệu, thì báo cáo tài chính dễ gặp rủi ro về tính chính xác của thông tin bởi thiếu đi một “xét đoán” của người lập báo cáo tài chính để đảm bảo yêu cầu thông tin phải phản ánh trung thực đúng “bản chất” của thực trạng đơn vị kế toán tại thời điểm lập báo cáo.

Do vậy, người (đơn vị) lập trình phần mềm kế toán cần thiết phải có được phân hệ “lập báo cáo tài chính linh hoạt” trước những xét đoán đúng bản chất của thông tin được trình bày lên báo cáo. Ví dụ như, các thông tin về tài sản trong ngắn hạn, dài hạn; công nợ trong ngắn hạn, dài hạn... thông thường được các nhà lập trình khai báo trong danh mục tài khoản chi tiết bởi các trường cụ thể từ trước.

Theo đó, các thông tin đầu vào khi nhập dữ liệu sẽ được cập nhật vào các tài khoản kế toán chi tiết đã được mặc định theo danh mục. Thế nhưng, tại thời điểm lập báo cáo tài chính có thể có bằng chứng buộc kế toán đơn vị phải tái phân loại theo đúng bản chất của tài sản, công nợ... để trình bày thông tin, chứ không phải căn cứ vào thông tin đã được ghi nhận vào tài khoản chi tiết đã được xây dựng theo danh mục là ngắn hạn, dài hạn từ trước...

Điều này không có nghĩa là kế toán thực hiện truy xuất ngược, để điều chỉnh thông tin trên sổ tài khoản kế toán đã được ghi nhận trước đó (tại thời điểm nhập dữ liệu, ghi nhận thông tin vẫn đúng với bản chất giao dịch, đúng với tài khoản kế toán chi tiết được ghi nhận).

Luật Kế toán và các văn bản pháp quy hiện hành đã cụ thể hóa được khá nhiều nội dung về chế độ kế toán hiện hành, nhất là đã tạo ra một hành lang pháp lý linh hoạt hơn so với các quyết định và chế độ tài chính - kế toán cứng nhắc trước đây về nhiều phương diện. Luật Kế toán cũng đã tạo ra cơ hội gắn kết, thống nhất với các văn bản pháp luật liên quan như Luật Giao dịch thương mại, Luật CNTT... để củng cố chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Một sân chơi thực sự bình đẳng trước pháp luật là nhu cầu khách quan của các DN hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Như vậy, đáp ứng với thời cuộc, các văn bản pháp luật kế toán cũng cần phải điều chỉnh theo hướng thuận lợi hơn, cụ thể hơn dưới dạng các văn bản nghị định, thông tư hướng dẫn…

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội, Luật Kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/6/2003; Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015;
2. Chính phủ, Nghị định số129/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán áp dụng trong hoạt động kinh doanh;
3. Quốc hội, Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
4. Quốc hội, Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006.

Bài đăng trên tạp chí Tài chính kỳ I tháng 11/2016

Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Các thủ tục chuyển đổi địa chỉ kinh doanh của doanh nghiệp




Trả lời câu hỏi của độc giả về thủ tục để chuyển đổi địa chỉ kinh doanh của doanh nghiệp gồm những gì?

Trong trường hợp doanh nghiệp muốn chuyển trụ sở chính khác quận, huyện, doanh nghiệp đó phải thực hiện chốt thuế tại chi cục thuế quận nơi đặt trụ sở công ty bạn trước khi nộp hồ sơ chuyển quận lên Sở Kế hoạch Đầu tư.

Trường hợp doanh nghiệp chuyển trụ sở công ty sang địa điểm mới cùng quận, huyện với trụ sở cũ, thì doanh nghiệp chỉ cần làm hồ sơ chuyển trụ sở lên Sở Kế hoạch Đầu tư.


Cụ thể, Trường hợp chuyển trụ sở khác quận huyện, hồ sơ chốt thuế bao gồm:

Biên bản họp về việc chuyển trụ sở của Đại hộ đồng cổ đông/ Hội đồng thành viên (Áp dụng cho loại hình công ty cổ phần hoặc TNHH 2 thành viên); Quyết định về việc chuyển trụ sở của Đại hộ đồng cổ đông/ Hội đồng thành viên/chủ sở hữu (Tùy thuộc vào loại hình công ty); Công văn gửi thuế về việc xin chốt thuế chuyển quận; Mẫu 08; Giấy đăng ký kinh doanh bản sao có chứng thực; Giấy giới thiệu cho người đi nộp hồ sơ.

Trường hợp chuyển trụ sở khác quận được nộp tại Sở KHĐT, hồ sơ bao gồm:

Biên bản họp về việc chuyển trụ sở của Đại hộ đồng cổ đông/ Hội đồng thành viên (Áp dụng cho loại hình công ty cổ phần hoặc TNHH 2 thành viên; Quyết định về việc chuyển trụ sở của Đại hộ đồng cổ đông/ Hội đồng thành viên/chủ sở hữu (Tùy thuộc vào loại hình công ty của bên bạn); Giấy đề nghị thay đổi đăng ký kinh doanh (theo mẫu tại văn bản pháp luật hiện hành); Giấy giới thiệu hoặc ủy quyền cho người nộp hồ sơ; Mẫu 09-10. (bản xác nhận của bên cơ quan thuế) và Bản sao công chứng giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Đối với hồ sơ chuyển trụ sở cùng quận, huyện: chỉ cần nộp hồ sơ tại Sở KHĐT, hồ sơ bao gồm:

Biên bản họp về việc chuyển trụ sở của Đại hộ đồng cổ đông/ Hội đồng thành viên (Áp dụng cho loại hình công ty cổ phần hoặc TNHH 2 thành viên), Quyết định về việc chuyển trụ sở của Đại hội đồng cổ đông/ Hội đồng thành viên/chủ sở hữu (Tùy thuộc vào loại hình công ty của bên bạn); Giấy đề nghị thay đổi đăng ký kinh doanh (theo mẫu tại văn bản pháp luật hiện hành); Giấy giới thiệu hoặc ủy quyền cho người nộp hồ sơ; Bản sao công chứng giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.


Theo Luật sư Nguyễn Huy Long
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Mức điều chỉnh đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với người sử dụng lao động




Ngày 07/04/2017, tại Nghị quyết số 34/NQ-CP, Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2017, Chính phủ đã đồng ý về xây dựng Nghị quyết của Quốc hội điều chỉnh mức đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp đối với người sử dụng lao động.

Cụ thể, Chính phủ đã thống nhất đề xuất điều chỉnh mức đóng bảo hiểm thất nghiệp đối với người sử dụng lao động quy định tại Điều 57 Luật việc làm từ 1% xuống còn 0,5% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp để tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp.

Theo đó, về thời gian thực hiện việc điều chỉnh kể từ ngày Nghị quyết của Quốc hội điều chỉnh mức đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đối với người sử dụng lao động có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31/12/2019.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ khẩn trương tiếp thu ý kiến Chính phủ, hoàn tất thủ tục xây dựng Nghị quyết của Quốc hội điều chỉnh mức đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đối với người sử dụng lao động.

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ trình Quốc hội Nghị quyết trên.

Trước đó, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (LĐ-TB-XH) cũng đang lấy ý kiến về việc điều chỉnh mức đóng vào Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp đối với người sử dụng lao động từ 1% xuống còn 0,5% quỹ tiền lương tháng.

Bộ LĐ-TB&XH cũng đưa ra 2 phương án giảm đóng quỹ Bảo hiểm thất nghiệp như sau: Một là, giảm mức đóng Bảo hiểm thất nghiệp từ mức 1% xuống mức 0,5% đối với người sử dụng lao động. Hai là, giảm mức đóng Bảo hiểm thất nghiệp từ 1% xuống mức 0,5% đối với người sử dụng lao động nhưng trong một giai đoạn nhất định.

Theo nội dung Tờ trình Quốc hội của Chính phủ, Luật Việc làm có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 mở rộng đối tượng tham gia Bảo hiểm thất nghiệp nên số người tham gia Bảo hiểm thất nghiệp năm sau cao hơn năm trước, đảm bảo chỉ tiêu kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.

Cụ thể, năm 2015 đã tăng 11,8% so với năm 2014, năm 2016 tăng 7,3% so với năm 2015 và vẫn có xu hướng tăng nhưng tỉ lệ tăng sẽ không cao ở những năm tiếp theo. Kết dư của Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp lớn nên năm 2015, 2016 và một số năm tiếp theo, Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp không có sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước mà tổng thu Bảo hiểm thất nghiệp trong năm chỉ bao gồm phần đóng của người lao động và người sử dụng lao động theo quy định.

Theo quy định hiện hành, ngân sách nhà nước hỗ trợ cho Quỹ bảo hiểm thất nghiệp tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi kết dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp thấp hơn 2 lần tổng chi bảo hiểm thất nghiệp của năm trước liền kề.

Ước kết dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp tính đến cuối năm 2016 là 56.486 tỉ đồng, dự báo đến năm 2020, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp vẫn bảo đảm an toàn.

Như vậy, nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo điều kiện để phát triển doanh nghiệp thì việc điều chỉnh mức đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp là điều cần thiết.

Theo Tạp Chí Tài Chính


Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Siết chặt mua bán hóa đơn lẻ đặc biệt là những ngành: Quảng cáo, xây dựng




Theo Tổng cục Thuế, thời gian qua công tác bán, cấp hóa đơn lẻ đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tại một số Chi cục Thuế xảy ra tình trạng các tổ chức, hộ, cá nhân lợi dụng việc bán, cấp hóa đơn lẻ để hợp thức hóa chứng từ mua vào, bán ra gây thất thu ngân sách Nhà nước (NSNN).

Vì thế, Ngày 09/01/2017, Tổng cục thuế ban hành công văn 80/TCT-KTNB

Theo đó, Tổ chức triển khai đầy đủ, nghiêm túc và kịp thời các giải pháp về nhận dạng, rà soát, kiểm tra các hộ, cá nhân, tổ chức có rủi ro cao về bán, cấp hóa đơn lẻ để ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng lợi dụng hóa đơn hợp thức hóa hàng hóa mua vào, bán ra gây thất thu NSNN.

Không để tình trạng 01 công chức thực hiện toàn bộ quá trình, cấp bán lẻ hóa đơn, trường hợp do thiếu người thì đề nghị tăng số lượng công chức cho bộ phận bán, cấp hóa đơn để đảm bảo tính khách quan và giám sát lẫn nhau trong quá trình thực hiện.

Đặc biệt những ngành dịch vụ quảng cáo, xây dựng, vận tải sẽ bị siết chặt mua bán hóa đơn lẻ

Tăng cường kiểm tra, kiểm soát việc bán, cấp hóa đơn lẻ trong các trường hợp sau đây:

– Kiểm tra, rà soát kỹ đối tượng đề nghị cấp hóa đơn lẻ (là các hộ, cá nhân, tổ chức không hoạt động kinh doanh) và đối tượng đề nghị bán hóa đơn lẻ (là hộ, cá nhân, tổ chức kinh doanh không sử dụng hóa đơn quyển) để hướng dẫn đối tượng thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục theo quy định. Cần tránh việc nhầm lẫn đối tượng đề nghị cấp và đối tượng đề nghị bán hóa đơn lẻ dẫn đến việc sai sót về trình tự thủ tục trong thời gian qua.

– Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ đối với việc bán, cấp hóa đơn lẻ cho loại hình kinh doanh có điều kiện, có rủi ro cao như: dịch vụ quảng cáo, dịch vụ vận tải, khai thác khoáng sản, nhân công xây dựng, các công trình dự án có vốn nhà nước.

– Đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã mua hóa đơn lẻ tại cơ quan thuế thì cơ quan thuế thực hiện rà soát, đối chiếu, kiểm tra để đảm bảo các đơn vị này không còn hoạt động, đã thực hiện thủ tục giải thể, phá sản, đã quyết toán thuế và đóng mã số thuế, việc mua hóa đơn lẻ của đơn vị chỉ để thanh lý tài sản theo quy định.

…..
Đối với công tác bán hóa đơn lẻ cho các hộ, cá nhân kinh doanh tại quy trình chưa quy định mẫu văn bản đề nghị mua hóa đơn, phải thể hiện đầy đủ các chỉ tiêu như:
+ Tên
+ Địa chỉ
+ Mã số thuế
+ Lý do đề nghị mua và yêu cầu người mua cam kết như sau:
“Tôi xin cam kết: Các kê khai trên là hoàn toàn đúng sự thật, tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về tính có thực của hàng hóa, dịch vụ kê khai. Nếu khai sai hoặc không đầy đủ thì cơ quan thuế có quyền từ chối bán hóa đơn; Quản lý hóa đơn do cơ quan Thuế phát hành đúng quy định của Nhà nước. Nếu vi phạm chúng tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”.

Kết thúc Quý I năm 2017, Các Cục Thuế, Chi cục Thuế địa phương phải thực hiện xong việc rà soát các hồ sơ rủi ro theo tiêu chí tại Công văn số 5156/TCT-KTNB của Tổng cục Thuế và báo cáo kết quả rà soát về Tổng cục Thuế.
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


Nghị định mới quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết



Ngày 24/02/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2017/NĐ-CP quy định nguyên tắc, phương pháp, trình tự, thủ tục xác định giá giao địch liên kết,nghĩa vụ của người nộp thuế trong kê khai, xác định giá của giao dịch liên kết và kê khai nộp thuế; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý, kiểm tra, thanh tra thuế đối với người nộp thuế có phát sinh giao dịch liên kết để quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có giao dịch liên kết sát với các tiêu chuẩn quốc tế và mang tính nhất quán đối với khung chính sách thuế toàn cầu về tính minh bạch.

Trong đó, một số nội dung quan trọng và nổi bật như sau:

Về nguyên tắc áp dụng: Nghị định đã quy định rất rõ ràng, chi tiết cho cả NNT và cơ quan thuế. Theo đó, thì nguyên tắc giao dịch độc lập được áp dụng theo nguyên tắc giao dịch giữa các bên độc lập; NNT có giao dịch liên kết phải thực hiện kê khai các giao dịch liên kết; Cơ quan thuế thực hiện quản lý, kiểm tra, thanh tra đối với giá giao dịch liên kết của người nộp thuế theo nguyên tắc giao dịch độc lập và bản chất quyết định hình thức để không công nhận các giao dịch liên kết làm giảm nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp với ngân sách nhà nước và thực hiện điều chỉnh giá giao dịch liên kết để xác định đúng nghĩa vụ thuế theo quy định. Nghị định định nghĩa rõ ràng thế nào là giao dịch liên kết, đó là giao dịch phát sinh giữa các bên có quan hệ liên kết trong quá trình sản xuất, kinh doanh, bao gồm: Mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng máy móc, thiết bị, hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận sử dụng chung nguồn lực như hợp lực, hợp tác khai thác sử dụng nhân lực; chia sẻ chi phí giữa các bên liên kết.

Để giúp cho NNT và cơ quan thuế có căn cứ để xác định giá giao dịch liên kết, Nghị định quy định có ba phương pháp so sánh xác định giá của giao dịch liên kết, đó là: phương pháp so sánh giá giao dịch liên kết với giá giao dịch độc lập; phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận của người nộp thuế với tỷ suất lợi nhuận của các đối tượng so sánh độc lập; phương pháp phân bồ lợi nhuận giữa các bên liên kết. Phương pháp xác định giá được áp dụng phù hợp nguyên tắc giao dịch độc lập, bản chất giao dịch và chức năng của người nộp thuế và việc xác định phương pháp áp dụng phải được căn cứ vào đặc điểm của giao dịch liên kết, tính sẵn có của thông tin dữ liệu và bản chất của phương pháp xác định giá để lựa chọn cho phù hợp.

Một điểm đáng lưu ý mà được NNT rất quan tâm đó là quy định về các trường hợp  không được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế, là các giao dịch liên kết không phù hợp bản chất giao dịch độc lập hoặc không góp phần tạo ra doanh thu, thu nhập cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế như: Chi phí phát sinh từ các dịch vụ được cung cấp chỉ nhằm mục đích phục vụ lợi ích hoặc tạo giá trị cho các bên liên kết khác; dịch vụ phục vụ lợi ích cổ đông của bên liên kết; dịch vụ tính phí trùng lắp do nhiều bên liên kết cung cấp cho cùng một loại dịch vụ…; Đối với lãi vay thì tổng chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ được trừ không vượt quá 20% số lợi nhuận trước thuế chưa trừ chi phí lãi vay và chi phí khấu hao.

Về hồ sơ kê khai xác định giá giao dịch liên kết, Nghị định quy định người nộp thuế có giao dịch liên kết có nghĩa vụ kê khai thông tin về quan hệ liên kết và giao dịch liên kết và nộp cùng Tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp. Bên cạnh đó, NNT còn phải lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết. Hồ sơ này được lập trước thời điểm kê khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm và không phải nộp cho cơ quan thuế. Người nộp thuế phải lưu giữ, xuất trình theo yêu cầu hoặc khi cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra. Để giảm bớt thủ tục hành chính cho NNT, Nghị định đã quy định một số trường hợp được miễn kê khai xác định giá và lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết, đó là trường hợp chỉ phát sinh giao dịch với các bên liên kết là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam, áp dụng cùng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp với người nộp thuế và không bên nào được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ tính thuế. Trường hợp người nộp thuế có giao dịch liên kết nhưng quy mô nhỏ hoặc các doanh nghiệp đã ký kết Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá thì chỉ phải kê khai thông tin quan hệ và giao dịch liên kết mà không phải lập hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/05/2017.

Nguồn: Tổng cục thuế            
Công ty dịch vụ kế toán Hà Nội Chuyên cung cấp các loại dịch vụ kế toán như : 
Hotline: Mr Quân 0974 975 029 – 0941 900 994 Hỗ trợ: 24/7
[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page